Lý thuyết Dow là gì?

Lý thuyết Dow là gì?

Lượt xem:2751 - Ngày:
  • Chia sẻ
  • Lý thuyết Dow là một lý thuyết cơ bản của phân tích kỹ thuât, là nền tảng phát triển của nhiều lý thuyết giao dịch chứng khoán khác ( trừ Ichimoku của người Nhật), thừa kế và phát triển trên nền tảng của lý thuyết Dow, làm cho lý thuyết này thêm vững chắc, đơn giản hơn và dễ hiểu hơn và thực tế hơn bằng đồ thị.

    Lý thuyết Dow đưa ra một số giả thuyết và sau đó phát triển từ nền tảng các giả thuyết này. Điều đầu tiên chúng ta cần làm là phải thừa nhận một số giả thuyết sau đây hoàn toàn đúng. Nói cách khác, đó là 1 dạng tiên đề mà bạn không cần chứng minh. Nếu bạn có chút nghi ngờ bất cứ lúc nào thì xem như dừng lại tại đấy và đừng đọc thêm hay học sâu về trường phái Phân Tích Kỹ Thuật làm gì, vì trường phái này phát triển dựa trên những giả thuyết này mà thôi.

    Lý thuyết Dow là gì?
    Lý thuyết Dow là một lý thuyết cơ bản của phân tích kỹ thuât, là nền tảng phát triển của nhiều lý thuyết giao dịch chứng khoán khác

    GIẢ THUYẾT:

    1. Không ai có thể thao túng xu hướng chính của thị trường.

    Một khi xu hướng chính đã được thiết lập thì chẳng ai có thể thay đổi được xu hướng này cho đến khi thị trường tự chuyển xu hướng chính của nó theo hướng ngược lại. Giải Nobel kinh tế năm 2012 cũng đã xác nhận điều đó.

    Giả sử như xu hướng tăng của thị trường đã được xác lập là sẽ tăng liên tục. Những ai thao túng giá cả thì chỉ có thể làm giá giảm trong một thời gian ngắn rồi nó lại tiếp tục đi trở lại xu hướng chính của thị trường là xu hướng tăng. Việc bẻ gãy xu hướng chính là điều thật khó khăn và có lẽ chẳng ai muốn làm điều đó để gánh lấy thiệt hại. Những kẻ thao túng giá chỉ thao túng giá trong thời gian ngắn để đạt được mục đích rồi thị trường lại quay về bản chất vốn dĩ của nó.

    Thị trường cứ đi theo xu hướng chính cho đến khi nó rã rời mỏi mệt với cái xu hướng đó tự nó sẽ đổi chiều để đi theo xu hướng khác. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý là đó là Thị trường CK nói chung, chứ không phải là giá cố phiếu cụ thể trong hoàn cảnh VN.

    2. Mọi thứ đều được phản ánh vào giá cả

    Thị trường phản ánh được mọi thông tin. Mọi thứ đều phản ánh vào thị trường thông qua giá cả. Giá cả là con số chung phản ánh được sự kỳ vọng, sự sợ hãi và mong chờ của tất cả những đối tượng tham gia thị trường. Tất cả mọi thứ sẽ phản ánh lên giá cả. Thay đổi lãi suất, tăng trưởng hay sụt giảm doanh thu lợi nhuận, bầu cử tổng thống… có thể thay đổi được giá cả và ảnh hưởng được lên giá cả nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Đây chính là giả thuyết tiếp nối giả thuyết 1. Còn xu hướng chính của giá cả vẫn chẳng thể bị ảnh hưởng. Ví dụ: xu hướng chính là tăng, nếu có thông tin xấu đột ngột xuất hiện thì giá cả sẽ giảm để phản ứng thông tin xấu đó, sau đó thị trường lại trở về với xu hướng chính là tăng và sẽ vượt lên khỏi giá mà khi thông tin xấu đó xuất hiện.

    Lý thuyết Dow là gì?
    Hình 1: Cổ phiếu PVC sau khi có tin xấu Biển đông 2014, sau đó tiếp tục tăng

    Có khi thông tin tốt lại không thể làm giá cổ phiếu tăng được bởi vì giá đã tăng trước rồi. Ví dụ: cổ phiếu A tăng giá từ 10,000 lên 20,000 sau đó thông tin tốt xuất hiện, giá cổ phiếu cũng không thể tăng thêm được nữa vì thực tế thông tin tốt đó đã phản ảnh lên giá trước đó làm giá tăng từ 10,000 lên 20,000. Và nếu tăng hơn 20,000 thì tăng quá mức mà thông tin tốt đó có thể phản ánh được. Như vậy, đôi khi thị trường lại phản ứng trước khi thông tin xuất hiện nên khi thông tin xuất hiện cũng không thay đổi được gì.

    Cũng tương tự như thế khi xu hướng chính đã trở nên mệt mỏi và muốn đổi xu hướng chính theo hướng ngược lại (như đổi tăng thành giảm, giảm thành tăng) thì dù có thêm bao nhiêu thông tin tốt đi chăng nữa, xu hướng chính tăng vẫn mệt mỏi và chuẩn bị bước vào xu hướng chính giảm. Hoặc dù có thêm bao nhiêu thông tin xấu đi chăng nữa, xu hướng chính giảm cũng đã giảm quá nhiều và chuẩn bị bước vào xu hướng chính tăng.

    3. Lý thuyết Dow không phải công cụ hoàn hảo

    Lý thuyết Dow đưa ra những nguyên lí và bản chất của thị trường và giúp bạn loại bỏ được những tâm lí cá nhân khi tham gia thị trường Tuy nhiên, khi dựa vào lý thuyết Dow bạn phải phân tích theo tiêu chí khách quan, đừng dựa trên những mong muốn của chính mình mà phân tích thì sẽ làm phân tích của bạn lệch lạc. Khi đấy phân tích của bạn bị lệch lạc, chứ không phải là lý thuyết Dow đã đưa ra những điều không đúng. Chính vì thế mới nói lý thuyết Dow không hoàn hảo. Cũng là dựa trên lý thuyết Dow nhưng những phân tích của những người khác nhau lại có thể khác nhau.

    Lý thuyết Dow chỉ giúp cho bạn có một cái nhìn ở xu hướng chính. Ở những xu hướng thứ cấp và ngắn hạn lý thuyết Dow không thể áp dụng. Vì trong xu hướng thứ cấp và xu hướng ngắn hạn giá cả thị trường có thể bị theo túng dễ dàng.

    Để giải thích rõ hơn, dựa vào lý thuyết Dow chúng ta có thể nhìn nhận được dễ dàng xu hướng chính, còn nếu là xu hướng ngắn hạn thì khả năng dựa vào lý thuyết Dow mà nhìn thì dễ dàng bị sai trầm trọng.

    Giả thuyết 3 đưa ra điểm yếu của lý thuyết Dow để người dùng hiểu các điểm yếu của nó mà xác nhận ra xác suất phân tích đúng của mình bao giờ cũng không bao giờ là chính xác tuyệt đối 100%. Tuy nhiên do sự mở rộng của các công cụ và lý thuyết sóng Elliott sau này, đã hạn chế được phần nào điểm yếu của lý thuyết Dow này.

    Chúng ta vừa mới điểm qua 3 giả thuyết của lý thuyết Dow.

    3 GIAI ĐOẠN CỦA XU HƯỚNG TĂNG CHÍNH VÀ 3 GIAI ĐOẠN CỦA XU HƯỚNG GIẢM CHÍNH:

    Giai đoạn 1 của xu hướng tăng chính (giai đoạn tích lũy): Giai đoạn đầu của xu hướng tăng thì khó có thể nhận ra đâu là đã bắt đầu xu hướng tăng chưa hay vẫn còn ở trong xu hướng giảm trước đó. Tâm lí tiêu cực bi quan của xu hướng giảm chính vẫn tiếp tục lan và thống trị luôn ở giai đoạn bắt đầu xu hướng tăng. Đây là giai đoạn thị trường giao dịch ít ỏi, tin tức thì xấu và giá trị của cổ phiếu thường thấp kỷ lục. Tuy nhiên, giai đoạn này dòng tiền thông minh bắt đầu tích lũy cổ phiếu. Những người kiên nhẫn chấp nhận mua vào đầu tư dài hạn.

    Trong giai đoạn đầu của xu hướng tăng chính, cổ phiếu bắt đầu tìm thấy được đáy và âm thầm xác nhận đáy. Khi thị trường bắt đầu tăng, có nhiều nghi ngờ và chưa tin là thị trường đã và đang khởi động tăng. Sau khi có một đợt sóng tăng và bắt đầu giảm lại, những kẻ nghi ngờ xuất hiện và cho rằng xu hướng giảm vẫn chưa kết thúc đâu. Ngay lúc này đây sẽ có những nhà phân tích từ tốn đưa ra nhận định bước sóng giảm này chỉ là xu hướng giảm thứ cấp 2, và xu hướng tăng vừa qua là xu hướng tăng thứ cấp 1 và cho biết thị trường đã khởi động tăng xu hướng chính và cụ thể được xong 1 bước sóng tăng thứ cấp và đây là bước sóng giảm 2 thứ cấp. Nếu đây là sóng giảm 2 thứ cấp thì đáy sóng giảm 2 sẽ cao hơn đáy trước đó.

    Thị trường âm thầm tạo đáy sóng giảm 2 cao hơn đáy trước, và đợt sóng tăng thứ cấp 3 lại bắt đầu và sau đó vượt lên khỏi đỉnh sóng tăng thứ cấp 1, mọi người bắt đầu nhận ra đợt sóng tăng 3 này và xu hướng tăng thứ cấp bắt đầu được mọi người nhìn thấy rõ nét. Điều này cho thấy đến khi mọi người đều thừa nhận xu hướng (giảm) trước kết thúc thì thị trường đã đi xong 2 sóng thứ cấp (tăng) 1 và (giảm) 2 và đang đi được nửa đường xu hướng thứ cấp (tăng) 3. Do vậy khi mọi người nhận ra được xu hướng chính mới bắt đầu thì thị trường đã đi một quảng khá xa. Chúng ta sẽ nhìn nhận rõ hơn khi tìm hiểu về lý thuyết sóng Elliott.

    Lý thuyết Dow là gì?
    Hình 2: Đồ thị cổ phiếu DXG năm 2017

    CÁCH XÁC ĐỊNH XU HƯỚNG CHÍNH:

    Bước đầu tiên trong việc xác định xu hướng chính là xác định các xu hướng của từng chỉ số riêng rẻ. Điều này có nghĩa là chúng ta đi xác định xu hướng chính của các chỉ số như VNindex, HNXindex, thậm chí Dow Jones, Nikkei,…. Nếu tất cả các chỉ số riêng rẻ này đều nói lên cùng một hướng xu hướng chính giống nhau thì xu hướng chính đúng là như thế. Nếu tất cả đều cho thấy xu hướng chính đổi chiều, thì xu hướng chính thật sự đã đổi chiều. Chúng ta dùng đỉnh và đáy để phân tích tìm ra xu hướng chính cho từng chỉ số riêng rẻ.

    Nếu chỉ 1 xu hướng chính XYZ báo đảo chiều thì có thể xu hướng chính trước vẫn còn giữ vững và XYZ sẽ sớm quay trở lại xu hướng chính. Hoặc xu hướng XYZ báo đảo chiều sớm và đợi các xu hướng của các chỉ số khác cũng khẳng định đảo chiều thì lúc này mới thật sự đảo chiều xu hướng trên tất cả các chỉ số thị trường. Xu hướng chính tăng thì các đỉnh và đáy sau cao hơn đỉnh và đáy trước. Xu hướng chính giảm thì các đỉnh và đáy sau thấp hơn đỉnh và đáy trước.

    Một khi xu hướng đã được xác định, nó sẽ giữ vững cho đến khi xu hướng ngược lại được xác định. Một xu hướng chính giảm vẫn được giữ vững là xu hướng chính giảm cho đến khi xu hướng chính tăng được xác lập. Cách xác định xu hướng chính tăng giảm mời các bạn xem hình bên dưới:

    Lý thuyết Dow là gì?
    Hình 3: Các xu hướng chính tăng giảm cp Gas từ năm 2013 – 2017

    CÁC CHỈ SỐ THỊ TRƯỜNG PHẢI ĐỒNG ĐIỆU:

    Các chỉ số thị trường phải đồng điệu với nhau thì mới xác nhận được xu hướng. Ví dụ như VNIndex xác nhận xu hướng chính chuyển từ giảm sang tăng. Nhưng xu hướng chính VN30 vẫn chưa chuyển từ giảm sang tăng thì xem như xu hướng chính của VNIndex vẫn ở xu hướng chính là giảm. Dựa vào sự đồng điệu, chúng ta biết được đâu là xu hướng chính đã được đổi hay vẫn còn ở xu hướng cũ.

    Ví dụ: Theo lý thuyết Dow thì sẽ thấy chỉ số VNIndex và VN30 luôn đồng điệu, cùng lên, cùng giảm, cùng kết thúc sóng, cùng bắt đầu sóng mới ở các con sóng chính. Đôi khi cũng có sự lệch về thời gian bắt đầu và kết thúc sóng ở những con sóng thứ cấp như sóng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Trước đây, thường VN30 sẽ đi sớm hơn VN-Index một tí. Nếu cả hai cùng đồng điệu, thì có thể khẳng định việc bắt đầu và kết thúc xu hướng.

    Mở rộng ra thì VNindex và VN30 phải cùng xu hướng chính với các chỉ số trung bình của các thị trường khác trên thế giới, đặc biệt là trong nhóm TT mới nổi. Cùng xu hướng chính, và ở các xu hướng thứ cấp như ở các bước sóng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn có thể có chút lệch pha trong một mức độ nào đó. Chính vì thế việc phân tích các sóng của các thị trường khác trên thế giới cũng như việc so giữa VNindex và VN30 sẽ đưa ta một cái nhìn tổng quát để từ đó đi đến phân tích chi tiết dễ dàng hơn.

    KHỐI LƯỢNG:

    Ở xu hướng chính tăng: Khối lượng sẽ tăng khi giá tăng theo xu hướng chính. Trong thị trường tăng, khối lượng giao dịch sẽ ngày một nhiều hơn, và sẽ bị giảm lại vào giai đoạn điều chỉnh. Trong giai đoạn điều chỉnh của xu hướng chính tăng thì khối lượng sẽ giảm và người tham gia thị trường cũng giảm. Trong giai đoạn điều chỉnh thì thị trường cũng mờ mịt và ảm đạm.

    Ở xu hướng chính giảm: Mỗi khi thị trường hồi lại thì khối lượng thường giảm. Khi thị trường lại tiếp tục giảm thì khối lượng tăng trở lại. Khi thị trường hồi lại thì người tham gia thị trường cũng ít lại.
    Bằng việc nhìn khối lượng, chúng ta có thể đoán biết được xu hướng chính.

    Mình đưa ra một ví dụ về trường hợp khối lượng, ở đây không phải là xu hướng chính giảm mà chỉ là xu hướng trung hạn giảm nhưng vấn đề khối lượng cũng nói lên được ở đây. Khi thị trường giảm khối lượng lại tăng, khi thị trường tăng khối lượng lại giảm, điều này báo hiệu nguy cơ đảo chiều sang giảm hoặc đang trong xu hướng giảm.

    ĐƯỜNG PHẠM VI MUA BÁN:

    Có những đường ngang hình thành nên phạm vi mua bán. Trong phạm vi mua bán này cho thấy các chỉ số đi sideways (đi ngang) trong một khoảng thời gian nhất định. Và khi đấy chúng ta có thể vẽ ra được những đường ngang đó bằng cách nối các đỉnh và các đáy. Những phạm vi mua bán như thế không cho biết rõ ràng là tích lũy hay phân phối, nhưng đến khi giá thật sự vượt lên hoặc vượt xuống khỏi phạm vi mua bán. Nếu vượt lên, thì phạm vi mua bán đó là tích lũy. Nếu vượt xuống thì phạm vi mua bán đó là phân phối. Trong vùng phạm vi mua bán thì không thể nhận định được tích cực hay tiêu cực cho đến khi phá vỡ để vượt khỏi phạm vi mua bán đó.

    Lý thuyết Dow là gì?
    Hình 4 cổ phiếu BHS tích lũy để tăng và giảm

    (Nội dung bài viết có tham khảo bài của blogger Tuyethoaphanus )

    Ý kiến Bình luận
    Top