Phân tích VCB: KQKD 6 tháng đầu năm LNTT tăng 52,6% so với cùng kỳ

Phân tích cổ phiếu VCB: KQKD 6 tháng đầu năm LNTT tăng 52,6% so với cùng kỳ

Lượt xem:852 - Ngày:
  • Chia sẻ
  • Vietcombank đã công bố KQKD 6 tháng đầu năm với LNTT tăng 52,6% so với cùng kỳ. Hoạt động kinh doanh chính tăng trưởng ổn định nhờ thu nhập lãi thuần tăng 19,1% so với cùng kỳ và thu nhập phí thuần tăng 31,8% so với cùng kỳ; ngoài ra thu nhập từ bán trái phiếu, thoái vốn và thu hồi nợ xấu cũng đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập hoạt động. Ngoài ra, LNTT tăng trưởng còn nhờ chi phí dự phòng chỉ tăng 7,8% so với cùng kỳ. Theo đó VCB đã hoàn thành được 60,3% kế hoạch lợi nhuận khiêm tốn cho cả năm là 13.300 tỷ đồng (tăng 17,3% so với cùng kỳ).

    Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu VCB là 65.000đ, tương đương P/B dự phóng là 3,2 lần. Cho năm 2018, điều chỉnh tăng dự báo với LNTT đạt 15.120 tỷ đồng (tăng trưởng 33,3%), chưa tính lợi nhuận tiềm năng từ thoái vốn tại MBB và EIB. Trên thực tế, động lực chính hỗ trợ giá cổ phiếu VCB trong 9 tháng qua chính là câu chuyện thoái vốn với tiềm năng đóng góp đáng kể vào lợi nhuận năm nay.

    Giãn triển khai Thông tư 36: Tích cực cho nhóm cổ phiếu ngân hàng
    Phân tích cổ phiếu VCB: KQKD 6 tháng đầu năm LNTT tăng 52,6% so với cùng kỳ

    Và khả năng phát hành riêng lẻ nâng vốn cấp 1 cũng tăng lên. Bên cạnh đó là tiềm năng của một thương vụ hợp tác độc quyền trong lĩnh vực bancassurance, có thể vào năm sau. Ngoài ra, câu chuyện tăng trưởng vẫn giữ nguyên giá trị, trong đó Ngân hàng tiếp tục mở rộng thị phần nhờ tập trung vào mảng ngân hàng bán lẻ với ưu thế về tiền gửi và chi phí huy động thấp. Trong khi chi phí dự phòng giảm tốc nhờ chính sách quản trị rủi ro tín dụng chủ động. VCB là cổ phiếu tốt nhất ngành ngân hàng và xứng đáng được định giá cao hơn bình quân ngành.

    Cho vay khách hàng tăng 11,52% so với đầu năm đạt 606 nghìn tỷ đồng. Cao hơn đáng kể mức tăng trưởng bình quân ngành trong 6 tháng đầu năm là 7,88%.

    Cho vay theo kỳ hạn cụ thể như sau:

    • Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 10,5% so với đầu năm đạt 335,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 55,8% vào tổng dư nợ (năm 2017 là 55,8%).

    • Trong khi đó cho vay trung dài hạn tăng 12,8% so với đầu năm đạt 270,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 44,7% vào tổng dư nợ (năm 2017 là 44,2%).

    Điểm đáng lưu ý là tăng trưởng cho vay kỳ hạn ngắn phần lớn rơi vào Q1 còn cho vay trung dài hạn phần lớn rơi vào Q2.

    Cho vay theo loại tiền cụ thể như sau:

    – Cho vay tiền đồng tăng 10,8% so với đầu năm, chiếm 83,5% tổng dư nợ cho vay.

    – Cho vay USD và các ngoại tệ khác tăng 15,1% so với đầu năm, chiếm 16,5% tổng dư nợ cho vay.

    Tiền gửi khách hàng tăng 7,9% so với đầu năm đạt 764,5 nghìn tỷ đồng. Theo đó tỷ lệ LDR thuần tăng lên 79,3% từ 76,7% cuối năm 2017.

    Phân tích cổ phiếu VCB: Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu 60.200đ
    Tiền gửi khách hàng tăng 7,9% so với đầu năm đạt 764,5 nghìn tỷ đồng.

    Tiền gửi theo kỳ hạn cụ thể như sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn tăng 6,7% so với đầu năm đạt 227,3 nghìn tỷ đồng, bằng 29,7% tổng vốn huy động (năm 2017 là 30,1%).

    • Tiền gửi có kỳ hạn tăng 8,2% so với đầu năm đạt 535,9 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3% tổng vốn huy động (năm 2017 là 69,9%).

    Tiền gửi theo loại tiền cụ thể như sau:

    • Tiền gửi bằng đồng VNĐ tăng 9,3% so với đầu năm đạt 626,1 nghìn tỷ đồng, bằng 81,9% tổng vốn huy động.

    • Tiền gửi bằng đồng USD tăng 2% so với đầu năm đạt 138,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1% tổng vốn huy động.

    Với tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao và tỷ trọng tiền gửi USD cao nhất ngành, VCB tiếp tục là ngân hàng có chi phí huy động thấp nhất trong số các NHTM.

    Tỷ lệ NIM giảm 0,08% xuống còn 2,78% – do lợi suất gộp giảm 0,23% so với cùng kỳ xuống còn 5,68% trong khi chi phí huy động giảm 0,2% xuống còn 2,84%.

    Về cơ cấu tài sản:

    • Tổng tài sản sinh lãi tăng 18,5% so với cùng kỳ (tăng 2,6% so với đầu năm) với tiền gửi liên ngân hàng tăng mạnh trong Q4/2017 và sau đó đầu tư trái phiếu tăng trong Q1/2018 trước khi giảm xuống mức bình thường hơn trong Q2. Tiền gửi liên ngân hàng và trái phiếu tăng là do dòng tiền từ bán cổ phần nhà nước tại SAB được gửi vào VCB. Cơ cấu cụ thể như sau:

    – Cho vay khách hàng tăng 15,5% so với cùng kỳ và đóng góp 64,5% trong tổng tài sản sinh lãi (tại thời điểm cuối Q2/2017 là 66,2%).

    – Tiền gửi và cho vay liên ngân hàng giữ nguyên so với cùng kỳ và đóng góp 15,2% trong tổng tài sản sinh lãi (tại thời điểm cuối Q2/2017 là 18%). Sau khi tăng trong Q4/2017 và chiếm 25,4% trong tổng tài sản sinh lãi, thì cho vay liên ngân hàng đã quay trở về mức bình thường.

    – Đầu tư trái phiếu tăng 52% so với cùng kỳ. Và tỷ trọng đóng góp trong tổng tài sản sinh lãi sau khi tăng lên 22,8% trong Q1 đã giảm xuống còn 20,3% trong Q2 (trái phiếu đầu tư trong Q2 giảm 12,2% so với Q1) trong khi tại thời điểm cuối Q2/2017 là 15,8%.

    • Lợi suất cho vay khách hàng tăng 0,1% lên 6,67%. Trong khi đó lợi suất cho vay liên ngân hàng giảm 0,24% xuống còn 2,02%.

    Lợi suất gộp đầu tư trái phiếu giảm 1,02% xuống còn 4,29% do trong Q1, VCB đầu tư mới một lượng lớn trái phiếu, mà lợi suất trái phiếu trong Q1 lại rất thấp (từ 2,42% cho kỳ hạn 1 năm đến 4,91% cho kỳ hạn 15 năm).

    Về cơ cấu huy động:

    • Tổng vốn huy động (chịu lãi) tăng 14,9% so với cùng kỳ. Cụ thể:

    – Đáng chú ý là tiền gửi của Kho bạc Nhà nước và NHNN giảm 45% so với quý liền trước xuống 71,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 8% tổng vốn huy động (cuối năm 2017 là 17,8%) và là mức bình thường.

    – Trong khi đó vay liên ngân hàng giảm 15% so với cùng kỳ, chiếm 4,4% tổng vốn huy động (Q2/2017 là 6%).

    – Giấy tờ có giá tăng 62,4% so với cùng kỳ, nhưng chỉ chiếm 2,4% tổng vốn huy động (cuối Q2/2017 là 1,7%)

    – Tiền gửi khách hàng tăng 17,6% so với cùng kỳ, chiếm 85,2% tổng vốn huy động (Q2/2017 là 83,3%)

    • Chi phí huy động tiền gửi khách hàng giảm 0,02% so với cùng kỳ xuống còn 3,13%. Chi phí vay liên ngân hàng và vay khác giảm 0,76% xuống còn 0,46%. Chi phí huy động bình quân từ phát hành giấy tờ có giá giảm 0,79% xuống còn 7,33% nhờ môi trường lãi suất năm nay thuận lợi hơn năm ngoái.

    Theo đó, thu nhập lãi thuần tăng 19,1% so với cùng kỳ đạt 12.997 tỷ đồng.

    Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 68,4% so với cùng kỳ lên 6.186,5 tỷ đồng, gồm:

    – Lãi thuần hoạt động dịch vụ đạt 1.732,6 tỷ đồng (tăng 31,8% so với cùng kỳ).

    – Lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 1.039,4 tỷ đồng (giảm 2,4% so với cùng kỳ).

    – Lãi thuần chứng khoán kinh doanh đạt 487 tỷ đồng (tăng 91,6% so với cùng kỳ). Nhờ lợi suất trái phiếu giảm xuống mức thấp kỷ lục trong Q1, nhiều ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tốt từ danh mục trái phiếu.

    – Lợi nhuận khác đạt 2.382,7 tỷ đồng (tăng 162,4% so với cùng kỳ). Phần lớn là thu hồi nợ xấu đã xử lý, và một phần trong tổng số lợi nhuận này thực tế đã được thực hiện từ Q4/2017 nhưng được VCB ghi nhận trong Q1/2018.

    – Thu nhập từ góp vốn mua cổ phần đạt 544,8 tỷ đồng (tăng 294,4% so với cùng kỳ), trong đó 418 tỷ đồng là lợi nhuận từ thoái vốn các khoản đầu tư dài hạn. Cụ thể gồm 248,4 tỷ đồng từ thoái vốn tại HVN và CFC đã ghi nhận trong Q1, và 169,6 tỷ đồng từ thoái vốn tại OCB được ghi nhận trong Q2.

    Phân tích cổ phiếu VCB: Dự báo năm 2018 LNTT tăng trưởng 35,4%
    Tổng thu nhập hoạt động đạt 19.183,6 tỷ đồng (tăng 31,5% so với cùng kỳ).

    Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 19.183,6 tỷ đồng (tăng 31,5% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nhập lãi thuần đóng góp 67,8% và 32,2% còn lại là từ tổng thu nhập ngoài lãi.

    Chi phí hoạt động tăng 25,3% so với cùng kỳ lên 7.931,4 tỷ đồng do chi phí nhân viên tăng mạnh lên 3.839,4 tỷ đồng (tăng 44,4% so với cùng kỳ) mặc dù số lượng nhân viên chỉ tăng 7,7% so với cùng kỳ. Chi phí này chiếm 48,4% tổng chi phí hoạt động của Ngân hàng.

    Các chi phí quản lý khác cũng tăng 12,2% so với cùng kỳ lên 2.809 tỷ đồng (tương đương 35,4% tổng thu nhập hoạt động).
    Chi phí dự phòng tăng nhẹ 7,8% so với cùng kỳ lên 3.235 tỷ đồng, gồm 389,7 tỷ đồng dự phòng chung và 2.695 tỷ đồng là dự phòng cụ thể.

    Tỷ lệ nợ xấu là 1,15% (cuối năm 2017 là 1,14%) với 1.381 tỷ đồng nợ xấu được xóa (tương đương 0,23% tổng dư nợ). Tổng số dư nợ xấu là 6.982,9 tỷ đồng và hệ số LLR vẫn ở mức rất cao là 140,6% (cuối năm 2017 là 130,7%).

    – Nợ nhóm 2 chiếm 0,8% tổng dư nợ (giảm 2% so với đầu năm, là 4.692 tỷ đồng).

    – Nợ nhóm 3 chiếm 0,2% tổng dư nợ (tăng 74,5% so với đầu năm lên 1.194 tỷ đồng).

    – Nợ nhóm 4 chiếm 0,28% tổng dư nợ (giảm 52,4% so với đầu năm xuống 1.705 tỷ đồng).

    – Nợ nhóm 5 chiếm 0,67% tổng dư nợ (tăng 110,5% so với đầu năm lên 4.084 tỷ đồng).

    Theo đó, LNTT 6 tháng đầu năm đạt 8.016,8 tỷ đồng (tăng 52,6% so với cùng kỳ).

    Dự báo LNTT tăng trưởng 33,3% – đạt 15.120 tỷ đồng sau khi điều chỉnh tăng đáng kể so với dự báo trước đó là 14.008 tỷ đồng (tăng trưởng 23,5%). Giả định chưa bao gồm lợi nhuận từ thoái vốn tại EIB và MBB trong dự báo. Các giả định gồm:

    (1) Tín dụng tăng trưởng 17% đạt 635.818 tỷ đồng và huy động tăng trưởng 15% đạt 814.798 tỷ đồng.

    (2) Tỷ lệ NIM tăng 0,06% lên 2,76% và thu nhập lãi thuần tăng trưởng 17% đạt 25.673 tỷ đồng.

    (3) Thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 40% đạt 10.458 tỷ đồng.

    (4) Ước tính chi phí hoạt động tăng 22,8% so với năm 2017 lên 14.673 tỷ đồng.

    (5) Dự báo chi phí dự phòng sẽ tăng nhẹ lên 6.339 tỷ đồng (tăng 2,27%).

    (6) Giả định VCB sẽ hoàn thành đợt phát hành riêng lẻ 10% trong năm 2018 và giá chào bán là 60.000đ/cp. Giả định xem xét đến các yếu tố sau:

    – Giá cổ phiếu VCB bình quân 3 tháng là 56.606đ/cp, và bình quân 1 tháng là 55.652đ/cp.

    – Thời gian phát hành và các chi tiết liên quan khác hiện vẫn chưa được công bố.

    – Giá chào bán sẽ không thấp hơn (1) định giá của tổ chức định giá độc lập và (2) thị giá cổ phiếu (mặc dù cơ chế quyết định thị giá chưa được công bố rõ ràng) và cũng phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

    Phân tích cổ phiếu VCB: Ước tính giá trị hợp lý của VCB là 44.500đ/cp
    Dự báo LNTT tăng trưởng 33,3% – đạt 15.120 tỷ đồng

    Dự báo LNTT tăng trưởng 33,3% đạt 15.120 tỷ đồng, EPS pha loãng là 2.698đ (tăng 29,5%). Và BVPS là 20.309đ, tương đương P/B dự phóng là 2,82 lần.

    Cho năm 2019, dự báo LNTT tăng trưởng 20% – đạt 18.131 tỷ đồng. Các giả định gồm:

    (1) Tín dụng tăng trưởng 18% đạt 750.266 tỷ đồng và huy động tăng trưởng 16% đạt 945.165 tỷ đồng.

    (2) Tỷ lệ NIM tăng 0,14% lên 2,9% và thu nhập lãi thuần tăng trưởng 18% đạt 30.358 tỷ đồng.

    (3) Thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 8,7% đạt 11.369 tỷ đồng với thu nhập phí thuần tăng 39,8% đạt 4.931 tỷ đồng.

    (4) Ước tính chi phí hoạt động tăng 19,2% lên 17.849 tỷ đồng.

    (5) Dự báo chi phí dự phòng sẽ giảm nhẹ còn 6.107 tỷ đồng (giảm 3,7%).

    Dự báo LNTT tăng trưởng 20% đạt 18.131 tỷ đồng, EPS pha loãng là 3.093đ (tăng 14,6%). Và BVPS là 22.417đ, tương đương P/B dự phóng là 2,56 lần.

    Câu chuyện tăng trưởng dài hạn của Ngân hàng vẫn rất tiềm năng – Tiềm năng tăng trưởng của VCB là rất lớn. Với thương hiệu ngân hàng tin cậy nhiều năm qua, vị thế dẫn đầu về thanh toán trên thị trường liên ngân hàng, tăng trưởng lợi nhuận ổn định cùng với hệ thống khách hàng lớn, VCB hoàn toàn xứng đáng là ngân hàng tốt nhất trên thị trường. Và trở ngại duy nhất đối với tăng trưởng của VCB là hạn mức tín dụng mà NHNN cấp cho Ngân hàng. Các hệ số an toàn của VCB đều rất tốt, cụ thể:

    • Hệ số CAR năm 2017 là 11,63%.

    • Tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là khoảng 28%, thấp hơn nhiều so với mức trần cho phép.

    • Hệ số LDR thuần chỉ là 79%, thấp hơn so với mức bình quân ngành.

    • Tỷ lệ nợ xấu là 1,15% cuối trong Q2/2018, là một trong những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất trong ngành. VCB vẫn luôn minh bạch về nợ xấu và nhanh chóng xử lý nợ xấu phát sinh.

    • Toàn bộ trái phiếu VAMC đã được trích lập dự phòng kể từ năm ngoái. Theo đó VCB có thể giảm hoặc giảm tốc trích lập dự phòng.

    • Hệ số LLR cuối Q2/2018 là 140,6%, là mức cao nhất trong ngành.

    Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân của VCB tăng trưởng với tốc độ gộp hàng năm là 51% trong 2 năm qua, với tỷ trọng trong tổng dư nợ tăng từ 20,1% vào năm 2015 lên 32,7% vào năm 2017. Tuy nhiên, tỷ lệ NIM lại không được cải thiện nhiều mà chỉ dao động quanh 2,7%, là mức khá khiêm tốn trong các NHTMCP. VCB sở hữu mạng lưới trên cả nước với quy mô xếp thứ 4, cụ thể có 496 chi nhánh và phòng giao dịch tính đến cuối năm 2017. Ngân hàng có tỷ lệ CASA cao là 29,7%, chi phí huy động thấp nhất trong ngành, là 2,84% vào cuối tháng 6 năm 2018, hệ số LDR thấp và khả năng tiếp tục tăng trưởng dư nợ cho vay bán lẻ. Tuy nhiên, cùng với chỉ đạo của nhà nước về việc giữ lãi suất cho vay thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ NIM của VCB sẽ không tăng nhiều trong thời gian sắp tới. Trong trung dài hạn, dự báo:

    • Tốc độ tăng trưởng gộp bình quân năm của cho vay trong ba năm tới là 17%.

    • Trong khi đó hệ số LDR thuần trong giai đoạn này sẽ tăng từ 76,7% lên 80%.

    • Tỷ lệ NIM sẽ dao động trong khoản 2,6% đến 2,8%.

    • Tốc độ tăng trưởng gộp bình quân năm của tài sản trong ba năm tới là 15%.

    • Và tốc độ tăng trưởng gộp bình quân năm của thu nhập lãi thuần là 16%.

    • Trong khi đó dự báo tốc độ tăng trưởng gộp bình quân năm của thu nhập ngoài lãi là 23%.

    • Tốc độ tăng trưởng gộp bình quân năm của LNTT trong ba năm tới là 22%.

    VCB có 2 động lực tăng trưởng hiện vẫn chưa đưa vào mô hình dự báo của mình do chưa chắc chắn về mặt thời gian và quy mô. Tuy nhiên đây có thể sẽ là những động lực lớn đối với giá cổ phiếu VCB. Cụ thể:

    (1) Thoái vốn khoải EIB và MBB, VCB nhiều khả năng sẽ giảm tỷ lệ sở hữu tại EIB và MBB xuống còn 5% mà không bán toàn bộ cổ phần như kế hoạch ban đầu. Dựa trên thị giá cổ phiế EIB và MBB hôm nay, khoản lãi từ thoái vốn ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng.

    (2) Triển vọng của thương vụ hợp tác trong lĩnh vực bancassurance trong năm 2018-2019 – VCB gần đây đã thuê Credit Suisse làm đơn vị tư vấn để tìm đối tác là công ty bảo hiểm nhân thọ để hợp tác trong lĩnh vực bancassurance. Mặc dù còn quá sớm để đưa ra ước tính, nhưng với mạng lưới rộng khắp và thị phần cao, giá trị thương vụ hợp tác của VCB sẽ cao hơn các thương vụ đã được thực hiện ở lĩnh vực bancassurance trong năm ngoái. Theo đó có thể kỳ vọng một khoản thu nhập ngoài lãi từ khoản phí hỗ trợ trả trước và phí hoa hồng lớn hơn, có thể từ năm 2019 trở đi.

    Tiếp tục đánh giá Khả quan. Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 65.000đ, tương đương P/B dự phóng là 3,2 lần. Cho vay bán lẻ tăng trưởng mạnh nhờ tình hình tài chính tốt hiện là động lực chính cho tăng trưởng của Ngân hàng và dự báo mảng này sẽ tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng của Ngân hàng trong vài năm tới. Khả năng ghi nhận lợi nhuận không thường xuyên từ bán cổ phần tại MBB và EIB trong năm nay sẽ giúp LNTT tăng đáng kể. Khả năng thực hiện thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực bancassurance, có lẽ trong năm 2019 có thể đóng góp đáng kể vào LNTT của VCB trong giai đoạn 2019 – 2020.

    —————————

    Ngô Minh Hoàng – Chuyên gia phân tích chứng khoán
    (nhận Hợp tác đầu tư – Quản lý tài khoản chứng khoán)
    Điện thoại: 012 5599 8558

    Tư vấn chuyên sâu trên Skype: cophieu86.com
    https://www.facebook.com/cophieu86/
    Website: www.cophieu86.com
    Tham gia nhóm phân tích cổ phiếu chuyên sâu tại đây.

    Ý kiến Bình luận
    Top