Phân tích cổ phiếu STK: Ước tính giá trị hợp lý STK là 19.900đ

Phân tích cổ phiếu STK: Ước tính giá trị hợp lý STK là 19.900đ

Lượt xem:847 - Ngày:
  • Chia sẻ
  • Dự báo cho năm 2018 doanh thu thuần tăng trưởng 19% còn LNST tăng trưởng 41%. KQKD năm 2017 đã có sự chuyển biến mạnh mẽ và sẽ tiếp nối trong năm 2018. Giá sợi đã tăng nhờ nhu cầu sản phẩm may mặc tại tại Mỹ và EU hồi phục. Trong khi đó các Hiệp định FTA với Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như Hiệp định CP-TPP sẽ cải thiện sản lượng tiêu thụ của STK trong tương lai. Ngoài ra, việc tập trung vào sản phẩm sợi với giá trị gia tăng cao hơn sẽ nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

    STK là doanh nghiệp sợi dài polyester lớn thứ hai tại Việt Nam với thị phần là 28%, sau Formosa với 41% thị phần. Hiện STK có 5 nhà máy sợi với tổng công suất là 60.000 tấn/năm. Ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu STK là 19.900 đồng, tương đương P/E dự phóng là 8,5 lần. STK có 3 sản phẩm chính là:

    • Sợi DTY – đóng góp lớn nhất vào doanh thu (năm 2017 đóng góp 85%). Doanh thu sợi DTY năm 2017 đạt 1.697 tỷ đồng (tăng trưởng 38%); tỷ suất lợi nhuận gộp là 10,1% (năm 2016 là 8,9%).

    • Sợi FDY – đóng góp lớn thứ hai vào doanh thu (năm 2017 đóng góp 9%). Doanh thu sợi FDY năm 2017 đạt 169 tỷ đồng (tăng trưởng 78%); tỷ suất lợi nhuận gộp duy trì ở 8,9%.

    • Sợi tái chế – đóng góp lớn thứ ba vào doanh thu (năm 2017 đóng góp 6%). Doanh thu sợi tái chế năm 2017 đạt 123 tỷ đồng (tăng trưởng 235%); tỷ suất lợi nhuận gộp là 25% (năm 2016 là 30%).

    STK là doanh nghiệp sợi dài polyester lớn thứ hai tại Việt Nam

    KQKD năm 2017 đã có sự chuyển biến mạnh mẽ – Doanh thu thuần năm 2017 đạt 1.989 tỷ đồng (tăng trưởng 46%) và LNST đạt 100 tỷ đồng (tăng trưởng 248%). Công ty đã hoàn thành được 103% kế hoạch doanh thu và 114% kế hoạch LNST đề ra. Trong năm 2017, STK đặt kế hoạch doanh thu thuần là 1.915 tỷ đồng (tăng trưởng 41%) và LNST là 87 tỷ đồng (tăng trưởng 204%).

    Doanh thu tăng trưởng nhờ cả sản lượng tiêu thụ và giá bán bình quân tăng – Trong cả năm 2017, sản lượng tiêu thụ tăng 31% lên 53.939 tấn nhờ cả thị trường Nhật Bản và thị trường trong nước tăng trưởng mạnh. Chúng tôi thấy rằng:

    • Tỷ trọng trong doanh thu của thị trường Nhật Bản đã tăng từ 0% trong năm 2016 lên 11% trong năm 2017.

    • Tỷ trọng trong doanh thu của thị trường nội địa đã tăng từ 40% trong năm 2016 lên 44% trong năm 2017.

    • Ngoài ra, giá bán bình quân tăng 12% lên 36.876 đồng/kg. Nhờ giá sợi DTY tăng 10% trước đà hồi phục của nhu cầu đối với sản phẩm may mặc tại thị trường Mỹ và EU.

    Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng nhờ giá bán bình quân hồi phục – Trong năm 2017, lợi nhuận gộp đạt 217 tỷ đồng (tăng trưởng 68%). Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 9,5% lên 10,9%. Lý do chính ở đây là giá bán bình quân tăng.
    Lỗ tài chính thuần giảm – Lỗ tài chính thuần giảm xuống còn 22 tỷ đồng nhờ lỗ tỷ giá giảm từ 13 tỷ đồng trong năm 2016 xuống còn 0,4 tỷ đồng trong năm 2017.
    Chi phí bán hàng & quản lý giảm – Trong năm 2017, chi phí bán hàng & quản lý là 90 tỷ đồng (tăng 28%); tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/ doanh thu giảm từ 5,2% trong năm 2016 xuống còn 4,5% trong năm 2017.

    Kế hoạch kinh doanh năm 2018 – Cho năm 2018, STK đặt kế hoạch doanh thu thuần là 2.354 tỷ đồng (tăng trưởng 18%) và LNST là 126 tỷ đồng (tăng trưởng 26%). Giả định chính của công ty là:

    • Sản lượng tiêu thụ tăng 10%.

    • Giá bán bình quân tăng 7%.

    • Giá hạt PET chip tăng 5%.

    Phân tích cổ phiếu STK: Ước tính giá trị hợp lý STK là 19.900đ
    KQKD Q1/2018 với doanh thu thuần đạt 589 tỷ đồng

    STK gần đây đã công bố KQKD Q1/2018 với doanh thu thuần đạt 589 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ) và LNST đạt 40 tỷ đồng (tăng 60% so với cùng kỳ). Doanh thu tăng trưởng nhờ sản lượng tiêu thụ tăng 15% và giá bán bình quân tăng 14%.
    Trong Q1/2018, STK tiêu thụ được 14.451 tấn (tăng 15% so với cùng kỳ) nhờ nhu cầu tại thị trường Nhật Bản và thị trường trong nước tăng ổn định. Ngoài ra giá bán bình quân tăng 14% so với cùng kỳ lên 40.758 đồng/kg nhờ nhu cầu sợi trên thị trường thế giới tiếp tục tăng. Điều này một phần là do giá nguyên liệu tăng 13% (giá hạt PET chip chiếm 60% trong giá vốn hàng bán) do giá dầu tăng trong Q1.

    Cho năm 2018, dự báo doanh thu thuần tăng trưởng 19% và LNST tăng trưởng 41% – Chúng tôi dự báo doanh thu thuần đạt 2.373 tỷ đồng (tăng trưởng 19% và cao hơn 1% so với kế hoạch của công ty) và LNST đạt 141 tỷ đồng (tăng trưởng 41% và cao hơn 11% so với kế hoạch của công ty). Giả định chính của chúng tôi như sau:

    • Sản lượng tiêu thụ đạt 59.620 tấn, tăng 10%; bằng với kế hoạch của công ty. Trong đó, sợi DTY đóng góp 75%; tiếp theo là sợi tái chế đóng góp 14% còn sợi FDY đóng góp 11%.

    • Giá bán bình quân là 39.795 đồng/kg, tăng 8%.

    • Chúng tôi cũng giả định giá hạt PET chip tăng 10% do giá dầu thô bình quân tăng.

    • Lợi nhuận gộp đạt 295 tỷ đồng (tăng trưởng 36%) trong khi tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 10,9% lên 12,4% do công suất hoạt động bình quân tăng từ 90% năm 2017 lên 99% trong năm 2018.

    • Lỗ tài chính thuần là 33 tỷ đồng (tăng 52%). Do lỗ tỷ giá tăng từ 0,48 tỷ đồng lên 11 tỷ đồng với giả định tỷ giá USD/VND tăng 2%.

    • Chi phí bán hàng & quản lý tăng 19% lên 108 tỷ đồng; tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu duy trì ở 4,54%.
    Theo đó, LNTT dự báo đạt 154 tỷ đồng (tăng trưởng 46%).

    Dự báo LNST đạt 141 tỷ đồng (tăng trưởng 41%). EPS dự phóng 2018 là 2.347 đồng, tương đương P/E dự phóng là 6,8 lần.

    • Tăng công suất thêm 8% bằng cách tập trung vào sợi tái chế – Vào tháng 3/2018, STK đã khởi công xây dựng nhà máy Trảng Bàng 5 với công suất 4.800 tấn/năm gồm 1.500 tấn sợi DTY và 3.300 tấn sợi tái chế. Vốn đầu tư cho nhà máy này là 129 tỷ đồng và quá trình xây dựng dự kiến sẽ hoàn thiện vào Q1/2019. Khi đó, tổng công suất của STK sẽ tăng 8% đạt 64.800 tấn/ năm từ Q1/2019 sau khi nhà máy Trảng Bàng 5 đi vào hoạt động.

    • Thành lập một liên doanh sản xuất sợi màu – Trong Q2/2017, STK đã thành lập một liên doanh với E.DYE Limited với tên gọi CTCP E.DYE Việt Nam có vốn điều lệ là 75 tỷ đồng. Trong đó, STK góp 27 tỷ đồng, tương đương 36% cổ phần và 63% cổ phần còn lại là của E.DYE Limited. STK đã ký 2 hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với liên doanh này để sản xuất sợi màu với công suất 6.120 tấn/năm. Dự án này sẽ được triển khai trong Q3/2018 và đi vào hoạt động từ Q1/2019.

    – Hợp đồng BCC1–Dự án sản xuất sợi màu tại Củ Chi – Vốn đầu tư là 197 tỷ đồng. Trong đó, STK góp 90 tỷ đồng, tương đương 72% cổ phần bằng quyền sở hữu đất, nhà xưởng, thiết bị và máy móc. CTCP E.DYE Việt Nam góp 34 tỷ đồng, tương đương 28% cổ phần bằng tiền mặt, thiết bị và máy móc. Phần vốn đầu tư còn lại, 73 tỷ đồng được huy động từ vốn vay.

    – Hợp đồng BCC2 – Dự án sản xuất sợi màu tại Trảng Bàng – Vốn đầu tư là 161 tỷ đồng. Trong đó, STK góp 54 tỷ đồng, tương đương 61% cổ phần bằng quyền sử dụng đất, nhà xưởng, thiết bị và máy móc. E.DYE góp 34 tỷ đồng, tương đương 39% cổ phần bằng tiền mặt, thiết bị và máy móc. Phần vốn đầu tư còn lại, 73 tỷ đồng được huy động từ vốn vay.

    STK mong muốn tập trung vào những loại sợi có giá trị gia tăng lớn hơn

    Chúng tôi hiểu rằng STK mong muốn tập trung vào những loại sợi có giá trị gia tăng lớn hơn gồm sợi tái chế và sợi màu. Chiến lược này không chỉ nhằm đa dạng danh mục sản phẩm mà còn giúp cải thiện tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty nhờ các sản phẩm mới cho tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Tỷ suất lợi nhuận gộp của sợi tái chế và sợi màu lần lượt cao hơn 10% và 4% so với sợi DTY.

    STK được hưởng lợi từ CP-TPP – Theo quy định của CP-TPP, để được miễn thuế nhập khẩu, các quốc gia trong CP-TPP phải sử dụng sợi do các nước thành viên CP-TPP khác sản xuất trong hàng may mặc.

    Trung Quốc là nước sản xuất sợi polyester lớn nhất thế giới, đóng góp khoảng 70% sản lượng sợi thế giới, xếp sau đó là Ấn Độ với 7% và Đài Loan đóng góp 5%. Tuy nhiên, các quốc gia thành viên CP-TPP chỉ đóng góp khoảng 4% sản lượng sợi CP-TPP thế giới. Và Việt Nam là nước sản xuất sợi polyester lớn nhất trong khu vực CP-TPP. Do đó, chúng tôi dự báo nhu cầu đối với sợi polyester của Việt Nam sẽ tăng lên.

    Công ty sẽ chi trả cổ tức năm 2017 bằng tiền mặt với tỷ lệ 8% mệnh giá và bằng cổ phiếu với tỷ lệ 7% mệnh giá – Đại hội thông qua trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 8% mệnh giá (800 đồng/cổ phiếu) và cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 7% mệnh giá. Phát hành 5,99 triệu cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu, tương đương 10% tổng số cổ phiếu đang lưu hành – Công ty cũng được cổ đông chấp thuận phương án phát hành 5,99 triệu cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ thêm 10% lên 659 tỷ đồng. Giá phát hành vẫn chưa được quyết định nhưng sẽ không thấp hơn 10.000 đồng/cổ phiếu. Vốn huy động mới sẽ được sử dụng để đầu tư cho nhà máy Trảng Bàng 5 và dự án sợi màu.

    Cũng trong Đại hội, cổ đông đã thông qua phương án phát hành 600.000 cổ phiếu ESOP cho CBCNV chủ chốt. Số cổ phiếu này sẽ được phát hành trong năm 2018 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu. 50% cổ phiếu trong đợt phát hành này sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong 1 năm và 50% còn lại sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong 2 năm.
    Chúng tôi dự báo khả quan đối với tiềm năng lợi nhuận của công ty trong 3 năm nhờ đóng góp lớn hơn từ sản phẩm sợi tái chế và sợi màu cho tỷ suất lợi nhuận cao hơn.

    Công ty sẽ chi trả cổ tức năm 2017 bằng tiền mặt với tỷ lệ 8%

    Trong 3 năm tới (2018-2020), chúng tôi dự báo doanh thu thuần sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 13% và LNST là 27%. Các giả định chính của chúng tôi gồm:
    • Sản lượng tiêu thụ sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp năm là 10% nhờ nhu cầu mạnh. Trong đó, đóng góp của sợi tái chế tăng từ 14% lên 25% trong khi đó đóng góp của sợi DTY giảm từ 75% xuống 60%. Sản phẩm sợi màu sẽ bắt đầu được tiêu thụ từ năm 2019 và đóng góp 2% tổng sản lượng tiêu thụ trong năm đầu tiên nhà máy đi vào hoạt động và tăng lên 10% trong năm thứ hai.
    • Giá bán bình quân sẽ tăng trung bình 3%/năm.
    • Tỷ suất lợi nhuận gộp sẽ tăng trung bình 12,4%/năm lên 13,9% nhờ đóng góp lớn hơn từ các sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.

    Tác động từ giá nguyên vật liệu tăng chưa chuyển đổi hoàn toàn sang giá bán – Chi phí chip PET là chi phí đầu vào lớn nhất, chiếm 60% giá vốn. Do chip PET là một sản phẩm hóa dầu nên cũng chịu tác động bởi sự biến động của giá dầu. Và chúng tôi nhận thấy xu hướng tăng của giá dầu thô có thể làm giảm tỷ suất lợi nhuận nếu sự gia tăng của chi phí không hoàn toàn được chuyển sang giá bán.
    Rủi ro tỷ giá – STK ghi nhận 60% doanh thu bằng USD trong khi đó cũng chi trả 55% chi phí bằng USD. Hơn nữa, STK cũng có nợ dài hạn bằng USD. Đến cuối năm 2017, nợ bằng USD của công ty là 21 triệu USD. Do đó, biến động của tỷ giá USD/VND sẽ tác động trực tiếp đến công ty.

    Quan điểm đầu tư: Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 19.900 đồng/cổ phiếu, tương đương P/E dự phóng là 8,5 lần. Động thái nâng đánh giá của chúng tôi chủ yếu dựa trên thực tế giá sợi tăng nhờ nhu cầu từ các thị trường lớn phục hồi. Chi phí đầu vào tăng cũng được chuyển sang giá bán và nhờ vậy tỷ suất lợi nhuận tăng. Chiến lược chuyển hướng sang các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn là một yếu tố tích cực khác.

    —————————
    Ngô Minh Hoàng 
    – Chuyên gia phân tích chứng khoán
    (nhận Hợp tác đầu tư – Quản lý tài khoản chứng khoán)
    Điện thoại: 012 6789 3333

    Tư vấn chuyên sâu trên Skype: cophieu86.com
    https://www.facebook.com/cophieu86/
    Website: www.cophieu86.com
    Tham gia nhóm phân tích cổ phiếu chuyên sâu tại đây.

     

    Ý kiến Bình luận
    Top