HPG: sản lượng thép tiêu thụ 5 tháng đầu năm tăng 22,4% so với cùng kỳ

HPG: sản lượng thép tiêu thụ 5 tháng đầu năm tăng 22,4% so với cùng kỳ

Lượt xem:336 - Ngày:
  • Chia sẻ
  • Triển vọng ngắn hạn có nhiều yếu tố trái chiều: với sản lượng tiêu thụ tốt (đặc biệt là thị trường trong nước) trong khi giá bán bình quân sẽ không hỗ trợ nhiều mặc dù giá quặng sắt vẫn đang ở mức rất cao. Nhà máy Dung Quất Giai đoạn 1 sẽ đi vào hoạt động vào ngày 18/6, điều này sẽ giúp HPG tăng lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước. Mức thuế TNDN ưu đãi của dự án Dung Quất có thể sẽ được lựa chọn áp dụng từ năm 2020, trong khi năm 2019, Công ty sẽ lựa chọn áp dụng mức thuế thông thường là 20% thuế TNDN cho lợi nhuận của Nhà máy Dung Quất nếu có. Triển vọng dài hạn vẫn nguyên vẹn bởi không có đối thủ trong và ngoài nước nào có thể xâm nhập vào lợi thế cạnh tranh của HPG. Ngay cả khi nhu cầu ở một số mảng có thể thấp, sự thâm nhập vào các phân khúc mới, khi HPG đóng vai trò như một sự thay thế của hàng nhập khẩu do ngành công nghiệp Việt nam phát triển, sẽ tiếp tục là câu chuyện tăng trưởng của doanh thu.

    Triển vọng ngắn hạn có nhiều yếu tố trái chiều mặc dù triển vọng dài hạn vẫn nguyên vẹn

    • Hôm nay, HPG công bố sản lượng thép xây dựng tiêu thụ trong 5 tháng đầu năm khả quan đạt 1,16 triệu tấn (tăng 22,4% so với cùng kỳ).

    • Bên cạnh đó, hôm qua, HPG đã giảm 2.3% giá bán của thép xây dựng xuống còn 12,6 triệu/tấn (giảm 6,7% so với cùng kỳ).

    • Nhu cầu thấp là một nguyên nhân dẫn đến giá bán giảm trong thời gian gần đây, tuy nhiên điều này cũng một phần do tính mùa vụ.

    • Nhà máy Dung Quất giai đoạn 1 sẽ đi vào hoạt động vào ngày 18/6, điều này sẽ giúp HPG tăng lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước.

    • Mức thuế TNDN ưu đãi của dự án Dung Quất có thể sẽ được lựa chọn áp dụng từ năm 2020, trong khi năm 2019, Công ty sẽ lựa chọn áp dụng mức thuế thông thường là 20% thuế TNDN cho lợi nhuận của Nhà máy Dung Quất nếu có.

    • Chúng tôi ước tính doanh thu thuần 6 tháng đầu năm đạt 30.317 tỷ đồng (tăng 12,3% so với cùng kỳ) và LNST đạt 3.653 tỷ đồng (giảm 17,5% so với cùng kỳ).

    • Cho năm 2019, chúng tôi dự báo LNST giảm 3,3% xuống còn 8.316 tỷ đồng. EPS dự phóng pha loãng năm 2019 là 2.906 đồng, P/E dự phóng là 8,19 lần.

    • Giá trị hợp lý của cổ phiếu HPG là 29.060 đồng, tương đương P/E dự phóng năm 2019 là 10 lần.

    Sản lượng tiêu thụ 5 tháng đầu năm 2019

    Nhu cầu thấp là một nguyên nhân dẫn đến giá bán trung bình trong thời gian gần đây giảm, tuy nhiên điều này cũng một phần do tính mùa vụ

    Sản lượng thép xây dựng tiêu thụ của HPG trong tháng 5 không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái ở mức 226.000 tấn (mặc dù giảm 4,5% so với tháng trước).

    Sau cuộc trao đổi với Công ty, chúng tôi biết rằng nhu cầu tại thị trường trong nước có vẻ chững lại và tiêu thụ khá chậm trong những ngày gần đây khi thời tiết chuẩn bị vào mùa mưa, cùng với không nhiều dự án xây dựng và/hoặc dự án cơ sở hạ tầng mới gần đây được khởi công xây dựng.

    Bên cạnh đó, khi giá bán giảm các đại lý thường có xu hướng giữ rất ít hàng tồn kho ở do sợ giá bán giảm hơn nữa, điều này càng làm ảnh hưởng xấu đến nhu cầu.

    Sản lượng tiêu thụ 5 tháng đầu năm 2019 HPG khả quan.
    Sản lượng tiêu thụ 5 tháng đầu năm 2019 HPG khả quan.

    Sản lượng thép xây dựng tiêu thụ trong 5 tháng đầu năm 2019 của HPG vẫn khả quan – đạt 1,16 triệu tấn (tăng 22,4% so với cùng kỳ). Sản lượng tiêu thụ tính đến thời điểm hiện tại tăng trưởng tốt nhờ chiến lược giá bán của HPG và công suất cán bổ sung tại dự án Dung Quất từ cuối năm 2018.

    • Sản lượng thép xây dựng tiêu thụ trong nước là khoảng 1,05 tấn (tăng 22,4% so với cùng kỳ), trong khi sản lượng thép xây dựng tiêu thụ xuất khẩu đạt 106.358 tấn (tăng 21,4% so với cùng kỳ).

    • Thị trường thép xây dựng ở miền Nam đã có những tăng trưởng rất mạnh và đạt 149.270 tấn trong 5 tháng đầu năm nay (tăng 165,1% so với cùng kỳ), và chiếm 12,9% tổng sản lượng tiêu thụ trong kỳ từ mức 5,9% trong cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu nhờ công suất mới tăng thêm vào cuối năm ngoái của nhà máy cán thép Dung Quất. Trong năm 2018, do thiếu hụt công suất, HPG đã ưu tiên bán sản phẩm của mình tại thị trường phía Bắc do tỷ suất lợi nhuận thường cao hơn. Tuy nhiên, kể từ khi nhà máy cán thép đầu tiên của Dung Quất đi vào hoạt động vào cuối năm ngoái, HPG đã tập trung giành thị phần tại thị trường miền Trung và miền Nam. Cùng với lợi thế về chi phí sản xuất, HPG có thể dễ dàng giành được thị phần tại thị trường phía Nam nhờ chiến lược giá bán rất cạnh tranh.

    • Công ty dường như cam kết cung cấp mức giá cạnh tranh nhất trên thị trường để giành được nhiều thị phần hơn và tăng cường công suất sử dụng. Chiến lược này đã bắt đầu vào tháng 12 năm ngoái, và thực sự, chiến lược tập trung vào việc giành thị phần của HPG để nhanh chóng hấp thụ công suất sắp tới là một phần thúc đẩy sự sụt giảm giá gần đây sau triển vọng nhu cầu yếu.

    • Chúng tôi hiểu rằng giá bán của HPG hiện tại thấp hơn 2% so với đối thủ cạnh tranh chính của họ tại thị trường phía Bắc là TISCO. Điều này rất quan trọng vì TISCO sử dụng công nghệ sản xuất BOF tương tự như HPG, trong khi các nhà sản xuất thép khác ở miền Nam, như POM hay Vina Kyoei, sử dụng công nghệ EAF với chi phí sản xuất cao hơn khoảng 10% cho mỗi đơn vị.

    • Nhờ những nỗ lực để giành được nhiều thị phần hơn trong thị trường, hiện tại, HPG đang nắm giữ hơn 25% thị phần thép xây dựng từ mức 24% trong năm 2018.

    Biến động giá nguyên liệu đầu vào – giá quặng sắt tăng mạnh sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất lợi nhuận của HPG còn giá than cốc và thép phế biến động trong biên độ hẹp.

    1. Quặng sắt: Chi phí quặng sắt thường chiếm khoảng 37% giá thành sản xuất sản phẩm thép xây dựng.

    – Giá quặng săt thế giới giao ngay vẫn ở mức cao, khoảng 100 USD/tấn; tăng 33,5% so với đầu năm và tăng 28,5% so với cùng kỳ. Hiện tại trong cơ cấu nguyên vật liệu đầu vào, nguồn quặng sắt thế giới đáp ứng khoảng 50% tổng nhu cầu hiện nay của HPG.

    – Nguồn cung trong nước và nội bộ đáp ứng 50% nhu cầu còn lại. Giá quặng sắt trong nước (63% Fe) hiện ở vào 75 USD/tấn so với mức giá giao ngay của thế giới là 100 USD/tấn. Về nguồn tự cung cấp, mỏ An Thông sản xuất khoảng 500.000 tấn/năm với hàm lượng Fe chất lượng rất cao và chi phí giá thành của quặng tự cung ứng ước tính là 80 USD/tấn.

    – Nhờ đa dạng hóa nguồn cung cấp cấp quặng sắt nên chúng tôi tin rằng HPG sẽ có chi phí quặng sắt bình quân thấp hơn các đối thủ cạnh tranh.

    2. Than cốc: Chi phí than cốc thường chiếm khoảng 28% giá thành sản xuất sản phẩm thép xây dựng.

    – Giá than cốc tăng ít hơn, hiện ở vào 205 USD/tấn, tăng 6,8% so với đầu năm và tăng 7% so với cùng kỳ.

    3. Thép phế: Thép phế chỉ đóng góp ít trong công nghệ lò BOF của HPG. Giá thép phế thế giới là 330 USD/tấn, tăng 4,8% so với đầu năm và giảm 5,7% so với cùng kỳ. Mặc dù là chỉ báo quan trọng cho giá thép thế giới và nội địa, nhưng thép phế lại không phải là nguyên liệu đầu vào quan trọng của HPG. Hiện tại, có khoảng 60% công suất sản xuất thép của Việt Nam sử dụng công nghệ lò EAF, và rõ ràng sẽ bị ảnh hưởng của giá thép phế.

    Ưu đãi thuế cho dự án Dung Quất sẽ áp dụng vào năm 2020
    Ưu đãi thuế cho dự án Dung Quất sẽ áp dụng vào năm 2020

    Dự án Dung Quất giai đoạn 1 – sẽ chính thức đi vào hoạt động vào ngày 18/6/2019 như kế hoạch đưa ra tại ĐHCĐTN gần đây

    – HPG sẽ đưa lò cao đầu tiên vào hoạt động vào ngày 18/6/2019 với công suất 1 triệu tấn thép dài và chúng tôi kỳ vọng thời gian chạy thử sẽ kéo dài 2-3 tháng trước khi bắt đầu sản xuất thương mại vào cuối Q3 năm nay. Lò cao thứ hai (sẽ nâng công suất thép dài thêm 1- 1,5 triệu tấn) sẽ đi vào hoạt động vào tháng 10 năm nay, 4 tháng sau lò cao thứ nhất.

    – Cùng thời gian đưa lò cao thứ nhất đi vào hoạt động, nhà máy cán thép giai đoạn 2 sẽ nâng công suất thép dài thêm 1,4-1,9 triệu tấn, nâng tổng công suất cán thép tại Dung Quất lên 2- 2,5 triệu tấn (tăng 47,3-64,2%).

    – Trong 2,5 triệu tấn thép dài công suất tăng thêm năm nay, có 1 triệu tấn là thép dài chất lượng cao. Sản phẩm thép dài chất lượng cao sẽ chủ yếu được tiêu thụ trong nước, bán cho những doanh nghiệp sản xuất bu lông, ốc vít để thay thế hàng nhập khẩu. Nhu cầu tiêu thụ thép dài chất lượng cao tại thị trường trong nước là khoảng 1,5 triệu tấn/năm và hiện 100% là nhập khẩu. Do vậy sau khi đưa sản phẩm này ra thị trường vào năm 2019, HPG sẽ bán cho các doanh nghiệp sản xuất thép cuộn, bu lông, ốc vít trên thị trường trong nước và thay thế trực tiếp hàng nhập khẩu. Khoảng 70-80% công suất nói trên sẽ được tiêu thụ trong nước và 20-30% là xuất khẩu.

    Dung Quất Giai đoạn 2

    – Lò cao thứ ba và lò cao cuối cùng mà phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩm HRC sẽ đi vào hoạt động vào đầu năm sau, lần lượt là trong tháng 2 và tháng 6.

    – Tổng công suất HRC trong năm 2020 sẽ đạt khoảng 2,5 triệu tấn. Nhà máy sẽ hoàn thành chuỗi giá trị toàn diện cho sản xuất tôn và ống thép.

    – Nhu cầu nội bộ đối với HRC đến năm 2020 sẽ tăng lên 1,2 triệu tấn, tương đương 48-50% tổng công suất của nhà máy HRC. Trong khi đó, tổng nhu cầu HRC trên thị trường Việt Nam sẽ sớm tăng lên khoảng 10 triệu tấn/năm. Trong 6 tháng cuối năm nay, khi lò cao thứ hai đi vào hoạt động, đối thủ của HPG, Formosa sẽ có thể cung cấp tới 4,5-5 triệu tấn HRC. Đến năm 2020, HPG và Formosa sẽ có thể cung cấp khoảng 7 triệu HRC, tương đương 70% tổng nhu cầu trong nước. Chúng tôi dự báo nhà nước cũng sẽ có chính sách bảo hộ đối với các nhà sản xuất HRC trong nước, tương tự như thuế bảo hộ áp dụng cho thép dài và thép dẹt được áp dụng từ năm 2016.

    Ưu đãi thuế cho dự án Dung Quất sẽ áp dụng vào năm 2020 – Theo Thông tư 78/2014/TTBTC, Công ty có quyền lựa chọn năm bắt đầu hưởng ưu đãi thuế. Chúng tôi lưu ý rằng Khu liên hợp Dung Quất sẽ được ưu đãi thuế với thuế suất 0% trong 4 năm đầu tiên, giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo và 2 năm cuối trong thời gian ưu đãi thuế được hưởng thuế suất 10%. Chúng tôi cho rằng HPG sẽ lựa chọn việc áp dụng mức thuế suất 20% cho năm 2019 và bắt đầu áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với nhà máy mới từ năm 2020.

    Dự án BĐS Nguyễn Đức CảnhChúng tôi được biết Công ty đã hoàn tất việc chuyển giao toàn bộ phần còn lại của dự án cho một đối tác khác, và sẽ hạch toán toàn bộ lợi nhuận của dự án này trong Q2 và Q3 năm nay (dựa trên thời gian bàn giao nhà). Dự án Nguyến Đức Cảnh sẽ đem lại doanh thu thuần là 400 tỷ đồng với LNST ước đạt 120 tỷ đồng; trong đó HPG đã hạch toán vào khoảng 50 tỷ đồng LNST vào Q1 năm nay. Theo đó, chúng tôi kỳ vọng HPG sẽ hạch toán toàn bộ lợi nhuận còn lại là 70 tỷ đồng vào Q2 và Q3 năm nay.

    Chúng tôi ước tính doanh thu thuần 6 tháng đầu năm đạt 30.317 tỷ đồng (tăng 12,3% so với cùng kỳ) và LNST đạt 3.653 tỷ đồng (giảm 17,5% so với cùng kỳ), dựa trên những giả định sau.

    Ước tính doanh thu thuần 6 tháng đầu năm 2019 đạt 30.317 tỷ đồng (tăng 12,3% so với cùng kỳ
    Ước tính doanh thu thuần 6 tháng đầu năm đạt 30.317 tỷ đồng (tăng 12,3% so với cùng kỳ)

    – Sản lượng thép xây dựng tiêu thụ 6 tháng đầu năm sẽ đạt 1,38 triệu tấn (tăng 25,9% so với cùng kỳ). Cho tháng 6, chúng tôi dự báo sản lượng có thể đạt 220.000 tấn (tăng 49,8% so với cùng kỳ).

    – Sản lượng tiêu thụ ống thép 6 tháng đầu năm sẽ đạt 330.000 tấn (tăng 5% so với cùng kỳ).

    – Giá bán bình quân thép xây dựng 6 tháng đầu năm sẽ là 12,7 triệu đồng/tấn (giảm 3,8% so với cùng kỳ).

    – Tỷ suất lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm sẽ giảm xuống 17,3% từ 21,4% trong 6 tháng tháng đầu năm ngoái, chủ yếu do giá quặng sắt tăng mạnh như đề cập trên đây.

    Dự báo năm 2019

    Cho năm 2019, chúng tôi điều chỉnh giảm 6,7% trong dự báo LNST so với trước đây do giá quặng sắt tăng mạnh hơn kỳ vọng trong thời gian gần đây. Hiện tại, chúng tôi dự báo LNST sẽ giảm 3,3% từ dự báo trước đó là tăng trưởng 4% – Chúng tôi dự báo doanh thu thuần đạt 70.569 tỷ đồng (tăng trưởng 26,4%) và LNST đạt 8.316 tỷ đồng (giảm 3,3%) so với dự báo trước đây là 8.920 tỷ đồng (tăng trưởng 4%). Các giả định chính của chúng tôi gồm:

    Doanh thu từ thép đạt 60.286 tỷ đồng (tăng 29,9%) nhờ: (1) sản lượng tiêu thụ thép xây dựng tăng 42,3% đạt 3,38 triệu tấn; (2) sản lượng ống thép cũng tăng 10% đạt 719.290 tấn và (3) sản lượng tiêu thụ tôn mạ tăng 9,5% đạt 150.000 tấn.

    Chúng tôi giả định giá bán bình quân thép xây dựng sẽ giảm 8,5% còn 12,03 triệu đồng/tấn.

    Chúng tôi dự báo doanh thu mảng thức ăn chăn nuôi là 5.515 tỷ đồng (tăng trưởng 20%).

    Chúng tôi dự báo doanh thu từ BĐS sẽ đạt khoảng 1.386 tỷ đồng, giảm 16,2% do nguồn đóng góp chính là dự án Mandarin Garden 2 đã được hạch toán trong năm 2018. Công ty sẽ hạch toán doanh thu từ dự án BĐS mới tại 70 Nguyễn Đức Cảnh.

    Trong khi đó chúng tôi dự báo các mảng kinh doanh nhỏ khác tăng trưởng doanh thu 7%.

    Lợi nhuận gộp dự báo là 11,7 nghìn tỷ đồng (giữ nguyên so với năm ngoái) với tỷ suất lợi nhuận gộp giảm xuống 16,5% (năm 2018 là 20,9%). Chúng tôi giả định giá quặng sắt sẽ tăng 21,5% lên 79 USD/tấn trong năm nay từ giả định trước đó là 75 USD/tấn. Ngoài ra, Công ty sẽ bắt đầu ghi nhận phần chi phí khấu hao của dự án Dung Quất kể từ Q4 năm 2019 trong khi nhà máy tôn, năm 2019 sẽ là năm đầu tiên ghi nhận toàn bộ cả năm chi phí khấu hao.

    Chúng tôi dự báo lỗ tài chính thuần tăng lên 927 tỷ đồng từ 477,9 tỷ đồng do chi phí lãi vay tăng 88,1%. Chúng tôi cũng dự báo HPG sẽ ghi nhận một phần chi phí lãi vay không được vốn hóa vào Q4 năm 2019.

    Chúng tôi cũng dự báo chi phí quản lý và bán hàng tăng 23,4% lên 1.383 tỷ đồng do chúng tôi dự kiến tỷ trọng chi phí quản lý & bán hàng/ doanh thu sẽ là 2%.

    Theo đó, chúng tôi dự báo LNTT và LNST năm 2019 lần lượt là 9.365 tỷ đồng (giảm 7%) và 8.316 tỷ đồng (giảm 3,3%). EPS dự phóng pha loãng năm 2019 là 2.906 đồng, P/E dự phóng là 8,19 lần.

    Khuyến nghị đầu tư: Chúng tôi dự báo giá trị hợp lý năm 2019 của HPG là 29.060 đồng, tương đương P/E dự phóng năm 2019 là 10 lần. Mặc dù lợi nhuận gần như đi ngang trong năm nay, chúng tôi tiếp tục coi HPG là đối tượng hưởng lợi chính từ (1) việc mở rộng trong quá trình công  nghiệp hóa của Việt Nam, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ tăng trưởng tối đối với các sản phẩm thép mới; (2) Chiến lược thay thế nhập khẩu của HPG đặc biệt là các sản phẩm thép dẹt và (3) quá trình tái cơ cấu ngành tiếp tục diễn ra với HPG vẫn là nhà sản xuất có quy mô lớn nhất với mức chi phí sản xuất thấp nhất.

    Ý kiến Bình luận
    Top